Đoàn văn công Cửu Long
Trong những năm kháng chiến chống giặc ngoại xâm, có một lực lượng cách mạng, đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng đất nước và ngày nay những công việc nầy vẫn không kém phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là hoạt động của đoàn văn công. Nhìn lại quá trình hoạt động của đoàn trong mưa bom, bão đạn, chúng ta thật bùi ngùi, cảm kích, nếu không có lòng yêu nước, dũng cảm và được sự dìu dắt , giáo dục của Đảng khó ai làm được điều nầy.
Sau phong trào đồng khởi, tại xã Tân Nhuận Đông, thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long (cũ), phong trào cách mạng rất sôi nổi- ấp, xã, huyện đều có Đoàn Văn công. Tiếng đàn hát của anh chị em văn công như thúc giục mọi người sẳn sàng ra trận.
Đoàn Văn công xã Tân Nhuận Đông, được Ban Tuyên huấn tỉnh chọn làm điểm chỉ đạo. Năm 1964, tất cả anh chị em Đoàn Văn công xã Tân Nhuận Đông được điều về để thành lập Đoàn Văn công huyện Châu Thành.
Năm 1965, đoàn văn công của huyện đóng tại xã Hòa Tân- vùng căn cứ cách mạng của tỉnh. Mỹ đã thả trái bom xuống căn cứ này và sau đó là rải chất độc hóa học/ dioxin hủy diệt hết cây cỏ… Màu xanh úa tàn trên quê hương Hòa Tân, An Khánh.
Chiến tranh lan tràn khắp xóm thôn. Đoàn văn công vẫn len lõi trong dân để hoạt động. Có lúc đoàn chuyển địa bàn để biểu diễn phục vụ nhân dân xã Tân Phú Trung, phải sống giữa đồng ngập nước, phải chia nhau từng cọng bông súng để ăn đỡ lòng. Vậy mà tiếng đàn hát vẫn lan tỏa khắp vùng. Đặc biệt, với hoạt cảnh Hội nghị Diên Hồng, đoàn đã tạo nên khí thế cách mạng sục sôi, huy động nhiều sức người, sức của từ nhân dân để phục vụ kháng chiến.
Ngày 1/ 6/ 1961, trong tình hình chiến tranh đang mở rộng và ác liệt, Đoàn Văn công Cửu Long chính thức được Tỉnh ủy Vĩnh Long cho thành lập, trên cơ sở Đoàn ca múa nhạc xã Mỹ Thuận (Bình Minh) với 17 anh chị em diễn viên, nhạc công tân- cổ do đồng chí Nguyễn Văn Mẫn (Bảy Hui) làm Trưởng đoàn, đồng chí Ngô Ngọc Bỉnh (Sáu Kỳ) Phó trưởng đoàn.
Chỉ trong thời gian từ tháng 6/ 1961 đến tháng 6/ 1962, đoàn phát triển nhân số lên 35 người. Đoàn có một chi bộ Đảng Lao Động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) và một chi đoàn Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày nay). Đoàn sinh hoạt rất nề nếp, kỷ luật trong tinh thần tự giác cao, đoàn kết, yêu thương giúp đỡ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ.
Chức năng nhiệm vụ của đoàn là sáng tác, dàn dựng tiết mục, tập luyện, biểu diễn phục vụ. Qua các tiết mục: ca, múa, nhạc, kịch, cải lương, tấu hài,…đoàn đã mang đến niềm vui, tinh thần lạc quan cho đồng chí, đồng bào. Nội dung chương trình bám sát theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị từng thời gian do Ban Tuyên huấn chỉ đạo để tuyên truyền đường lối cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, chánh sách của Đảng, góp phần cổ vũ phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh chống Mỹ cứu nước.
Hằng tháng, đoàn biểu diễn từ 5- 6 buổi, mỗi năm biểu diễn 60- 70 buổi. Ngoài việc tham gia biểu diễn của đoàn, anh chị em trong đơn vị còn tuyên truyền vận động binh sĩ ở các đồn bót lận cận, bằng việc từ hầm tránh đạn phát loa, đọc tin, đàn hát kêu gọi binh sĩ cộng hòa trở về.
Những tiết mục văn nghệ của anh chị em ca ngợi những chiến thắng vang dội của bộ đội ta (như chiến thắng Đồng Xoài, Ấp Bắc), ca ngợi tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô như bài Hoan hô tên lửa LX, Dân Liên Xô, ca ngợi hòa bình với bài hát Cánh chim hòa bình,…tạo được ấn tượng sâu sắc cho người xem…
“Ở dân thương,
đi dân nhớ”
Từ năm 1961- 1964 căn cứ chính của đoàn được đóng ở xã Hòa Tân, An Khánh (nay là xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Minh). Đoàn ăn, ở sinh hoạt chủ yếu dựa vào dân: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Anh em trong đoàn luôn nhắc nhở nhau: “Ở cho dân thương, đi dân nhớ”. Ngoài giờ làm việc là lao động giúp dân bủa củi, đi chài, kéo lưới v.v...
Đến giữa năm 1964 - 1966, căn cứ của đoàn chuyển về Sông Chẹt- xã Mỹ Thuận (bây giờ là xã Nguyễn Văn Thảnh- Bình Minh). Những tiết mục được nhân dân hoan nghênh nhất trong thời điểm nầy là múa: Hoa sen dưới cờ giải phóng của biên đạo múa Trường Sơn, vở cải lương Tình riêng nghĩa cả của tác giả Trần Ngọc và Máu thấm đồng Nọc Nạn của tác giả Phạm Ngọc Truyền. Đêm diễn thường xuyên có từ 500 đến hơn 1.000 người xem; có lần đến trên 10.000 người xem- lúc ra mắt Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tại một cánh đồng thuộc xã Hòa Tân.
Thời này muốn đi xem văn công giải phóng cũng cực kỳ khó khăn, nhiều người dân phải đi 2- 4 km. Có bà con sợ đi muộn không có chỗ ngồi, gói cơm đến điểm biểu diễn dỡ ra ăn.
Sau tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, địch tái chiếm vùng căn cứ. Đồn bót mọc lên như nấm. Đoàn Văn công được lệnh sang 3 xã cù lao An Bình, Bình Hòa Phước, Đồng Phú biểu diễn. Chị Tám Phụng và chị Năm Hồng- lúc nầy là cán bộ xã Đồng Phú, sắp xếp chỗ ăn nghỉ và cất giấu phục trang, phông màn, nhạc cụ của đoàn.
Đoàn vừa biểu diễn phục vụ nhân dân 3 xã cù lao xong thì địch tái chiếm trở lại. Đoàn phải tổ chức quay trở về đất liền nhưng bị một toán biệt kích truy đuổi. Chúng nhả đạn xối xả vào đội hình của đoàn, chị Thanh Lan (Sáu Gái) bị sốt cao không chạy nổi. Chị nhảy xuống sông, bị lún bùn non đến ngang thắt lưng, may nhờ đồng đội (chị Ba Trang , anh Chín Nhỏ) kéo lên, kè chị chạy….Địch vẫn rượt đuổi đến tận sông Cái Bè. Nhờ trời đã sụp tối, địch không thể truy đuổi theo nữa nhưng không thể lên bờ vì e bị vây bắt. Cả đoàn đành trầm mình xuống sông Cái Bè quay trở về Đồng Phú.
Chị Tám Phụng (người to lớn, oai phong, thường mang súng ngắn) tổ chức đưa các chị em nữ đi bằng con đường công khai: ngồi trên ghe máy về xã Hòa Tịnh, huyện Cái Nhum cũ (nay là huyện Mang Thít). Bên người chị Tám lúc nào cũng có 1 súng carbin và 2 trái lựu đạn da láng, để bảo vệ đoàn và chiến đấu với kẻ thù .
Máu, nước mắt và tiếng hát cách mạng
Từ năm 1967 đến cuối năm 1968, đoàn văn công đóng ở rạch Cái Lá, xã Mỹ Lộc. Biên đạo múa Huỳnh Thanh Trang (Chị Ba Trang) được cử về để dàn dựng điệu múa Tân Cương. Hội trường của đoàn bao giờ cũng có thêm 2 hầm tránh đạn bom.
Hôm ấy, chị Sáu Gái được phân công tập hát cho nhóm, cách hội trường khoảng 100m. Chị Ba Trang thì hướng dẫn múa Tân Cương cho nhóm nữ tại hội trường, Nhà văn Nguyễn Văn Thới (chú Mười Xã)- Trưởng đoàn ngồi ngay miệng trảng xê nhỏ viết thành tích cho Đoàn.
Nghe tiếng máy bay L 19 lượn tìm điểm để ném pháo (gián điệp chỉ điểm), chị Ba Trang bước ra để quan sát. Thấy máy bay lao xuống ném pháo, chị chỉ kịp chạy trở vào hội trường. Đạn pháo địch ném ngay miệng hầm, chú Mười Xã bị trúng pháo, văng óc chết tại chỗ. Chị Ba Trang bị thương nặng, thương tích ở ngực, môi và còn bị cháy cả quần áo,
Anh Thanh Cường- người yêu của chị Ba Trang đưa chị xuống xuồng để chuyển về bệnh viện, xúc động kêu lên:
- Về lần nầy phải cưới luôn!
Trước khi vào trận đánh Tết Mậu Thân, 6 diễn viên đoàn văn công hi sinh, nằm lại ở nghĩa trang liệt sĩ Bình Minh.
Địch vẫn tiếp tục bắn pháo vào vùng căn cứ ngày một dày hơn. Ngày 19/ 3/ 1969, một trái đạn rơi ngay vào đội hình. Diễn viên múa Hồng Việt 19 tuổi được điều về đoàn mới 19 ngày, bị mảnh đạn cắt vào động mạch cổ. Chị ngã xuống, máu loang ngập chân anh Bạch Long đang đứng gần đó. Suối tóc nhung mềm bị dìm trong máu. Kẻ thù đã cướp đi tuổi xuân tươi đẹp của người con gái yêu nước.
Đêm chị Hồng Việt hi sinh, chị Sáu Gái cũng bị thương nặng, đoàn bố trí hai chiếc xuồng lặng lẽ trong màn đêm, dưới tầm pháo của địch (thời gian nầy cứ cách một giờ, địch nã pháo vào vùng kháng chiến một lần, bất kể mục tiêu), xuồng anh Ba Đoàn đưa chị Sáu về tổ dân y để phẫu thuật chữa thương. xuồng chú Tám Mộng đưa xác chị Hồng Việt về nơi tập kết các chiến sĩ đã hi sinh trong đêm tại nghĩa trang Kinh mới, để đến sáng tổ mai táng lo hậu sự. Sợ xác chị bị ngập nước, vì mùa nước đang lên, chú Tám đóng chéo 4 cây to, đặt xác chị lên rồi trở về căn cứ, cách đó khoảng 1000 m.
Anh em trong đoàn bảo chị Việt còn đeo đôi bông tai, phải mang về trao cho gia đình giữ kỷ niệm. Vậy là chú Tám quày quả bơi xuồng trở về nơi đặt xác chị Việt. Đến nơi, thấy xác chị bị rơi xuống nước do đất lún, cây sụp! Chú Tám dựng lại giàn cây, ôm xác chị Việt đã lạnh buốt đặt trở lên giàn. Đêm khuya, một mình chú Tám với xác chị Việt và những đồng chí ở các đơn vị bạn đã hi sinh ở giữa nơi quạnh quẽ, rợn người. Đạn pháo địch vẫn nỗ vang dội bên tai! Nhưng với tình yêu đồng đội chú đã vượt qua tất cả! Đôi bông của chị Việt bây giờ gia đình vẫn còn giữ gìn cẩn thận như đó là hình bóng thân yêu của chị.
Thời kháng chiến, người chiến sĩ cách mạng thật kiên cường và tình yêu thương đồng đội cũng vô cùng sâu đậm. Trong nỗi đau tiếc thương đồng đội, lòng căm thù địch càng mãnh liệt. Anh chị em lại tiếp tục mang lời ca tiếng hát phục vụ đồng chí, đồng bào và chiến đấu với kẻ thù.
Ngày 03/ 9/ 1969, trên bờ Kinh Câu Dụng, xã Tân Quới, được tin Bác Hồ mất, cả đoàn đều khóc. Địch phát loa thông báo mong làm chao đảo tinh thần chiến đấu của những người cộng sản, nhưng chẳng có gì làm lung lay nổi ý chí người chiến sĩ cách mạng. Ban chỉ huy đoàn văn công lập bàn thờ Bác Hồ, cho toàn Đoàn đứng nghiêm tưởng niệm công ơn trời biển của vị lãnh tụ, cũng là vị Cha già kính yêu của dân tộc đã đưa đường chỉ lối cho đàn con đấu tranh thoát ách nô lệ ngoại bang. Toàn đoàn để tang Bác với mảnh vải đen cài trên tay áo, cùng đứng nghiêm trang trước bàn thờ Bác tuyên thệ: “Chúng con là cán bộ, đảng viên, đoàn viên Đoàn Văn công Cửu Long nguyện thề chiến đấu theo con đường của Bác đến hơi thở cuối cùng. Xin thề!” Lời thề của toàn đoàn dõng dạc vang lên, rồi cả đoàn lại động viên nhau hãy quyết tâm chịu đựng gian khổ, hy sinh, thực hiện lời thề với Bác.
Từ năm 1969- 1972 Đoàn không ở căn cứ như trước, do đồn địch dầy đặc, vùng cách mạng bị thu hẹp- Đoàn lưu diễn đến đâu, đào hầm bí mật đến đó, hoặc tránh né địch càn bằng cách cẩn mật ẩn vào những cụm vườn sầm uất cách đồn địch vài trăm mét, hoặc áp sát rào đồn. Đoàn văn công có lúc phải phân tán nhiều tổ biểu diễn: 2 – 3 người hát phục vụ từng nhóm cán bộ, du kích và đến từng gia đình chí cốt cách mạng, chỉ cách đồn địch vài trăm mét. Họ đàn ca ở nhà sau với chiếc đèn bánh ú, phục vụ xong ở nhà nầy lại sang nhà khác. Bà con gặp lại anh chị em trong đoàn mừng rơi nước mắt kêu lên: “Gặp được em cháu trong đoàn mới biết cách mạng còn. Ở ngoài nầy bọn bình định tuyên truyền: “Việt cộng chết và chiêu hàng hết rồi!”
Tiếng hát át tiếng bom
Từ đầu năm 1970 trở đi, địch ra sức càn quét phong trào cách mạng, đồn địch dầy đặc, cứ 500m là có một đồn địch. Đoàn Văn Công ăn, ở, sáng tác, tập luyện, biểu diễn cách xa đồn địch không quá 500m. Hoạt động của Đoàn hết sức khó khăn, khi hành quân Đoàn phải chia nhau tay xách, tay mang chứ không còn dùng được xuồng chuyển tải. Chị Huỳnh Thanh Lan (Sáu Gái) – chính trị viên của đoàn, với dáng người nhỏ nhắn nhưng xung phong vác trên vai chiếc phong màn to như lấp cả người chị. Có khi anh chị em còn phải mang cả nắp hầm để làm hầm bí mật nơi chuẩn bị diễn, diễn xong đi nơi khác, lại dỡ nắp hầm mang theo, để tránh địch đánh phá, vì ở mặt đất, trên không đều có địch. Bởi thế, chỗ ăn, ở của đoàn phải hết sức bí mật, đoàn thực hiện phương châm: “đi không dấu, nấu không khói, nói đủ nghe, tập ca thì vào trảng xê tránh đạn, tập múa thì đàn miệng đủ nghe”. Dù hoạt động trong điều kiện khó khăn vậy nhưng Đoàn vẫn không ngừng sáng tác, tập luyện, biểu diễn phục vụ chiến sĩ, đồng bào.
Tết Chol- Chnam- Thmay của dân tộc Khmer năm 1971, đồng bào ấp Hóa Thành (xã Đông Thành- Bình Minh), cùng với các vị sư chùa Tòa Sen hừng hực khí thế đòi tên đồn trưởng Lục Ly và binh lính khu vực Hóa Thành, không được bắn phá ngày vui Tết cổ truyền của dân tộc, để mỗi cái Tết, Đoàn Văn Công Cửu Long về biểu diễn phục vụ đồng bào. Tên Trưởng đồn đã hứa hẹn với Ban trị sự chùa Tòa Sen và bà con ấp Hóa Thành. 11 giờ trưa hôm ấy, đoàn biểu diễn thu hút đông đảo đồng bào Kinh, Khơmer đến xem.
Trong thời gian đoàn hoạt động, biết bao lần anh chị em thoát chết trong gang tất. Hôm ấy, mấy anh em (chú Tám Mộng, chị Chín Hạnh, anh Bình) trú ở hầm bí mật (hầm cá trê), địch phát hiện nhưng có một người lính vờ thọc chân vô hầm cá trê quậy, xong la lên:
- Mẹ! Việt cộng chạy mất hết rồi!
Chị chín Hạnh sang sông Câu Dụng ở xã Thành Lợi, bị địch tập kích bắn theo. Trái lựu đạn đeo bên hông chị bị bắn tróc cả vỏ!
Lúc bấy giờ lực lượng bị cô lập với dân, nên thiếu ăn, phải thường xuyên ăn chuối, rau, trái và bông mỏ quạ, thi thoảng mới được ăn cháo. Có anh em chiến sĩ, cán bộ đơn vị bạn đi kiếm chuối ăn, bị vướng lựu đạn chết. Gia đình của anh Chín Nhỏ phải qua mắt địch bằng cách giả vờ đi bắt ốc, hái rau trong ruộng, mang gạo từng túi nhỏ, giấu ở khắp chiếc xuồng, chở vào cho đoàn. Anh em được một bữa cơm ăn với muối tiêu ngon như ăn tiệc.
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, địch điên cuồng phản kích bằng việc triển khai kế hoạch bình định nông thôn. Hằng đêm, địch nã pháo vào vùng căn cứ ở Sông Chẹt, xã Mỹ Thuận. Nhiều gia đình phải tan nát vì pháo dập. Máu và nước mắt chan hòa. Nỗi đau không chỉ riêng ai. Càng căm thù giặc, anh em trong đoàn càng quyết chí hơn trong chiến đấu.
Lệnh của Ban Tuyên huấn, các đơn vị trực thuộc Ban Tuyên huấn phải bám trụ, làm nhiệm vụ chuyên môn, bất cứ khó khăn nào. Đoàn Văn công ráo riết tập chập cải lương Xuân quê hương của tác giả Trọng Thu, chị Sáu Gái đảm trách vai chính. Vở diễn nầy khẳng định một niềm tin tất thắng của cách mạng, đã tiếp sức cho đồng chí, đồng bào vững vàng đấu tranh vì một mùa xuân hòa bình trên đất nước.
Một trong những chiến sĩ Đoàn Văn công đã hi sinh trong giai đoạn 1971-1972 , có chồng của nữ diễn viên Huỳnh Thanh Lan (thường gọi là Sáu Gái), anh Thanh Giang- nhạc công tân nhạc của đoàn, được phân công đi vào vùng tranh chấp, chuẩn bị cho cuộc chỉnh huấn tại xã Đông Thành, huyện Bình Minh. Trên đường đi, anh bị địch phục kích bắn cả một băng đạn carbin vào người. Du kích của xã Đông Thành về gặp chị, chưa dám báo tin anh hi sinh, chỉ yêu cầu chị đưa cho chiếc võng, linh cảm điều bất an, chị gạn hỏi, anh em du kích ngập ngừng trả lời: anh chỉ bị thương nhẹ… nhưng anh đã vĩnh viễn ra đi! Khi đó, chị Sáu Gái ở tuổi 23, với đứa con gái nhỏ vừa 8 tháng tuổi, đang được gửi cho bà nội nuôi. Chị sụp đổ, nỗi đau như ai cắt ruột nhưng chị nén đau thương vào lòng. Là một chính trị viên của đơn vị, chị không cho phép mình ngã quỵ.
Những đêm diễn sau khi anh Giang vừa mất, không người thế vai, chị Sáu Gái đã gạt nước mắt bước ra sân khấu biểu diễn để hoàn thành nhiệm vụ của đoàn trong đợt diễn ấy! Trường hợp chị Huỳnh Thanh Trang (thường gọi Ba Trang) cũng thế, chồng vừa hi sinh nhưng do yêu cầu biểu diễn, chị vẫn nuốt nỗi đau để bước ra sân khấu với tinh thần của người chiến sĩ cách mạng trong lúc đất nước đang trong cảnh “nước mất nhà tan”, với tâm nguyện: phải xứng đáng với sự hi sinh của các anh, người đi trước ngã, người đi sau phải dũng cảm tiến lên chiến đấu với kẻ thù. Phải biến đau thương thành hành động!
Vào khoảng năm 1971- 1972, nhạc công hi sinh hết, chị Sáu Gái vừa làm người dẫn chương trình, múa, hát, tấu hài và phải tập đàn cả đàn mandolin để thay chồng làm nhiệm vụ nhạc công phục vụ đêm diễn. Đoàn Văn công từ trên 40 người, đã hi sinh chỉ còn 9 người (5 nữ, 4 nam), được chuyển địa bàn về huyện Vũng Liêm. Đoàn vẫn giữ vững ý chí, vẫn hoạt động trong bất kỳ tình huống khó khăn nào. Tác giả Trần Mộng (thường gọi Tám Mộng) ngồi trên tán cây cao vừa quan sát, canh gát để kịp thời phát hiện sự xuất hiện của địch, vừa viết chập cải lương Lửa đốt màn đêm. Viết xong, xuống hầm tránh đạn để thông qua kịch bản với đơn vị, sau đó dàn dựng cho đoàn biểu diễn.
Đoàn ở đâu đều phát đất làm lúa, tự lực một phần lương thực (chỉ phát và cấy lúa ban đêm để tránh địch phát hiện). Từ năm 1973, căn cứ đoàn đóng ở Bưng Sẩm (xã Hòa Bình- Trà Ôn) cho đến ngày toàn thắng 30/ 4/ 1975.
Niềm mong ước hôm nay
Thời kháng chiến, bom đạn nổ trên đầu nhưng mỗi ấp, xã đều có đoàn văn công, đi trên sông ta vẫn nghe tiếng đàn, tiếng hát của chiến sĩ văn công. Chính tiếng hát hừng hực lửa cách mạng đã gieo vào lòng nhân dân vùng kháng chiến tình yêu cách mạng và kêu gọi người dân sẳn sàng hi sinh sức người, sức của kể cả việc đưa con em ra chiến trường đấu tranh vì độc lập- tự do của đất nước.
Nét mặt chú Tám Mộng – nguyên Trưởng Đoàn Văn công rực sáng niềm tự hào khi nói: “Giai đoạn địch ra sức càn quét quyết liệt, buổi sáng thức dậy nhìn thấy nhau mới biết mình và anh em còn sống. Ngoài những anh chị em đã hy sinh thì số còn sống trở về sau ngày giải phóng miền Nam, đều bị thương, ít thì 1 lần, còn nhiều thì đến 5 lần. Vậy mà, trong những tháng năm máu lửa đó, tiếng hát của Đoàn Văn công Cửu Long vẫn vang lên không bao giờ tắt”.
Sau giải phóng hoàn toàn Miền Nam 15 ngày, Đoàn Văn công được biểu diễn tại sân vận động Vĩnh Long. Lúc nầy niềm vui tràn ngập trong lòng, anh chị em biểu diễn trong sự hưng phấn cực điểm, đã phục vụ trên 30 ngàn đồng bào, chiến sĩ đến xem. Sau đó, đoàn tổ chức đợt biểu diễn liên tục vào vùng nông thôn của nhiều xã, huyện, tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, được đông đảo đồng bào háo hức đến xem và cổ vũ.
Thực hiện chủ trương nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, năm 1976, Đoàn Văn công Cửu Long của tỉnh Vĩnh Long và Đoàn Ánh Hồng của tỉnh Trà Vinh được hợp nhất. Sau đó, lấy bộ phận cải lương của 2 đoàn thành lập Đoàn Cải lương Cửu Long do tác giả Trần Mộng làm trưởng đoàn; lấy bộ phận ca múa nhạc của 2 đoàn thành Đoàn Ca múa nhạc Cửu Long do đồng chí Huỳnh Thanh Vân (Bảy Thi) làm Trưởng Đoàn.
Hai đoàn nầy tiếp nối nhiệm vụ trong tình hình mới bằng những đợt phục vụ đồng bào, đồng chí trong tỉnh và nhiều đợt ở chiến trường K; trong đó có chuyến biểu diễn với tỉnh kết nghĩa ở nước bạn Liên Xô của Đoàn ca múa Cửu Long.
Một kỷ niệm sâu sắc mà có lẽ anh chị em đoàn văn công sẽ nhớ mãi là đợt biểu diễn sau 15 năm, đoàn văn công Cửu Long không còn hoạt động (1992). Nhân Ngày Thương binh- Liệt sĩ 27/ 7 năm 2007, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã tạo mọi điều kiện cho Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh tập họp 50 anh chị em đoàn văn công đang hoạt động ở khắp nơi: chị 6 Gái, chị Thanh Hoa, chị Thanh Phượng, chị Kim Dung, anh Thanh Tâm,… và cả chị Ngọc Ánh từ Hà Nội cũng trở về cùng Đoàn Văn công của Ngành Công An tỉnh Vĩnh Long tổ chức đợt biểu diễn trong 6 ngày tại vùng căn cứ xưa: ấp Hóa Thành, xã Đông Thành, xã Mỹ Thuận (nay là xã Nguyễn Văn Thảnh) huyện Bình Minh; xã Hòa Bình, huyện Trà Ôn; xã Hòa Tân, huyện Châu Thành (Đồng Tháp) đồng bào đã nô nức về xem, ở mỗi điểm có gần 1.000 người. Kỷ niệm bùng lên, cảm xúc nghẹn ngào… khi các anh chị em văn công đặt chân về vùng căn cứ xưa …từng mái nhà, vườn cây, ngọn cỏ, cánh đồng …đều đầy ắp những kỷ niệm. Hình bóng những đồng đội đã hy sinh như hiện ra trước mắt. Những giọt nước mắt không ngăn được, tràn mi…
Trong kháng chiến, qua 14 năm (1961 – 1975), Đoàn dàn dựng, biểu diễn phục vụ đồng bào, đồng chí trên 9.500 lượt tiết mục ca, múa, nhạc, kịch nói, cải lương với trên 500 buổi diễn, không kể các Tổ phục vụ trong vùng giải phóng, vùng tranh chấp, vùng kiềm ấp chiến lược, khu trù mật của địch.
Quá trình thành tích của Đoàn được Chính phủ tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất cho đơn vị và nhiều Bằng khen, Giấy khen cho Đội, Tổ và cá nhân. Anh chị em Đoàn Văn công rất trân trọng thành quả nầy.
Điều ước mong nằm sâu trong trái tim những người đã từng gắn bó với Đoàn Văn công Cửu Long xưa là trong hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, Vĩnh Long cũng cần có Đoàn Văn công làm nòng cốt trong phong trào văn nghệ quần chúng, mang niềm vui tinh thần đến cho bà con nghèo ở tận vùng nông thôn sâu, để cất vang tiếng hát ca ngợi những thành quả của toàn dân trong lao động sáng tạo, trong bảo vệ Tổ quốc và qua tác phẩm sân khấu chuyển tải những nội dung đấu tranh kiên quyết xóa bỏ cái xấu, xây dựng cái mới tốt đẹp trong xã hội mới, bởi văn nghệ vốn là một nghệ thuật dễ đi vào lòng người, dễ cảm hóa con người (*).
(Theo lời kể của nhà sáng tác Trần Mộng, nguyên Trưởng Đoàn Văn Công Cửu Long và chị Huỳnh Thị Sáu, nguyên là Phó Đoàn- ủy viên Ban Tuyên huấn tỉnh ủy Vĩnh Long)
Nguyễn Thị Thúy Vân
Tháng 4/ 2011
----------------------------------------------------------------------------------------------------------
(*) Năm 1989, Đoàn Ca múa Cửu Long (Đoàn Văn Công Cửu Long trong kháng chiến) giải thể do khó khăn nhiều mặt. Đoàn Cải lương Vĩnh Long vẫn hoạt động đến năm 1992, được Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long cho rời tỉnh Vĩnh Long về nhập với Đoàn Văn Công Ánh Hồng thuộc tỉnh Trà Vinh- sau khi tỉnh Cửu Long được tách ra trở lại thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh.
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=319226
Bản in












